Chỉ số bền vững đối với Tổ chức xã hội

MSD trân trọng gửi đến Quý độc giả Góc tri thức với nội dung “Chỉ số bền vững đối với Tổ chức Xã hội”.

(Tải bản PDF tại đây)

USAID, dựa trên những kinh nghiệm làm việc với đối tác đã đưa ra các phân tích và công cụ để đánh gía các yếu tố để một CSO bền vững, trong bối cảnh của mối quan hệ đối tác song phương, đa bên, đa ngành và liên ngành. Chúng tôi đã biên tập tài liệu này, dựa trên tài liệu của USAID nhằm cung cấp đến quý độc giả những thông tin tham khảo, trả lời cho câu hỏi: CSO đo lường và cải thiện sự bền vững của tổ chức như thế nào? Vai trò của mối quan hệ đối tác với sự bền vững của CSO?

—–

USAID hợp tác chặt chẽ với các TCXH ở địa phương để phát triển các Chỉ số bền vững đối với CSO, theo 7 chỉ số. Từng chỉ số được thảo luận và chấm điểm theo tiêu chí, rồi tính điểm trung bình để cho ra điểm số sơ bộ.

Các chỉ số bền vững cho CSO bao gồm:

Môi trường pháp lý

Để khu vực xã hội dân sự phát triển bền vững, môi trường pháp lý nên đáp ứng nhu cầu của các TCXH. Môi trường này tạo điều kiện thuận lợi để các TCXH mới được thành lập gia nhập và tạo cơ sở pháp lý cần thiết để TCXH được tham dự vào những hoạt động gây quỹ và huy động nguồn lực hợp pháp. Các yếu tố hình thành môi trường pháp lý bao gồm: đăng ký một cách dễ dàng, các quyền lợi hợp pháp cụ thể, các quy định về thuế, thủ tục hành chính và các vấn đề khác tạo thuận lợi cho sự tồn tại và hoạt động hiệu quả của các TCXH.

Năng lực tổ chức

Một khu vực xã hội dân sự bền vững sẽ bao gồm các TCXH được quản lý một các minh bạch và có trách nhiệm giải trình công khai; được quản lý một cách chuyên nghiệp và thể hiện những kĩ năng tổ chức thiết yếu. Khía cạnh năng lực tổ chức của Chỉ số đề cập tới: khả năng tham gia vận động chính sách; hoạch định chiến lược, cũng như quản lý nội bộ và thực tiễn nhân sự của các TCXH. Cuối cùng, khía cạnh này xem xét các nguồn lực kỹ thuật sẵn có cho các hoạt động của các TCXH.

Tự chủ tài chính

Một số lượng lớn các TCXH phải tự chủ về mặt tài chính và nền kinh tế phải đủ mạnh để hỗ trợ những nổ lực tự chủ tài chính của các TCXH và huy động được những đóng góp thiện nguyện từ nguồn lực địa phương. Với nhiều TCXH, tự chủ tài chính phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn tài trợ quốc tế cũng như khả năng cạnh tranh của họ để có được những nguồn tài trợ này. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự chủ tài chính của khu vực xã hội dân sự bao gồm: tình trạng của nền kinh tế, mức độ mà các hoạt động thiện nguyện và tình nguyện được khuyến khích trong văn hóa địa phương và mức độ mà các cơ hội đầu tư công và tăng doanh thu thương mại được phát triển. Tính chuyên nghiệp, tỷ lệ huy động vốn và kỹ năng quản lý tài chính tốt cũng được xem xét.

Vận động chính sách

Môi trường chính trị và chính sách phải hỗ trợ sự thành lập của các liên minh và mạng lưới các TCXH; cung cấp cho các TCXH công cụ để truyền tải thông điệp của họ qua phương tiện truyền thông tới công chúng; trình bày nguyện vọng của họ với các cơ quan nhà nước và giám sát hoạt động của chính phủ nhằm đảm bảo trách nhiệm giảm trình. Khía cạnh này xem xét những thành tích của TCXH trong việc gây ảnh hưởng tới các chính sách công. Tỉ lệ vận động chính sách ở các khu vực khác nhau, ở các cấp chính quyền khác nhau và cũng như khu vực tư nhân. Quy mô các liên minh các TCXH cũng như mức độ và khả năng giám sát cũng được xem xét.

Cung cấp dịch vụ

Sự bền vững đòi hỏi các TCXH cung cấp một cách hiệu quả các dịch vụ, đáp ứng chính xác nhu cầu, ưu tiên và kì vọng của đối tượng hưởng lợi. Khía cạnh này đánh giá phạm vi chương trình và dịch vụ các TCXH cung cấp và khả năng những dịch vụ này đáp ứng các nhu cầu, ưu tiên của cộng đồng. Chỉ số này cũng bao gồm mức độ mà các TCXH thu hồi chi phí và nhận được sự công nhận cũng như hỗ trợ của chính phủ đối với các dịch vụ cung cấp.

Nền tảng chung

Đáp ứng tính bền vững, cần có một nền tảng chung để có thể giúp các TCXH tiếp cận một cách rộng rãi các dịch vụ hỗ trợ địa phương. Các tổ chức trung gian cung cấp những dịch vụ này phải đủ khả năng thông báo, đào tạo và tư vấn cho các TCXH khác; giúp họ tiếp cận các mạng lưới và liên minh TCXH để chia sẻ thông tin và theo đuổi các vấn đề cùng quan tâm. Tỉ lệ và mức độ hiệu quả của việc hợp tác giữa TCXH và doanh nghiệp địa phương, chính phủ và truyền thông cũng được cân nhắc.

Hình ảnh trước công chúng

Chính phủ, khu vực tư nhân và cộng đồng có cái nhìn tích cực về các TCXH bao gồm sự hiểu biết rộng rãi và đánh giá cao vai trò của các TCXH trong xã hội. Nhận thức và sự tín nhiệm của công chúng trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tuyển dụng các thành viên và tình nguyện viên cũng như khả năng thu hút các nhà tài trợ địa phương của các TCXH. Khía cạnh này xem xét bản chất và mức độ bao phủ của các TCXH trên các phương tiện truyền thông; nhận thức và sự sẵn lòng của các cơ quan nhà nước trong việc liên kết các TCXH; hiểu biết và cách nhìn nhận của công chúng về toàn thể khu vực xã hội dân sự. Quan hệ công chúng và nỗ lực tự điều chỉnh của các TCXH cũng được cân nhắc.